Dân tộc La Chí

Dân tộc La Chí
Tên gọi khác
Cù Tê, La Quả
Nhóm ngôn ngữ
Ka đai
Dân số
8.000 người.
Cư trú
Cư trú chủ yếu ở huyện Xín Mần ( Hà Giang ), huyện Mường Khương và Bắc Hà ( Lào Cai )
Đặc điểm kinh tế
Người La Chí làm ruộng bậc thang trồng lúa nước. Các gia đình thường nuôi trâu, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, cá, nhưng theo nếp cũ thì không nuôi bò. Nghề dệt vải bông và nhuộm chàm của phụ nữ La Chí có truyền thống lâu đời.

Dân tộc La Ha

Dân tộc La Ha
Tên gọi khác
Xá Khắc, Phlắc, Khlá
Nhóm ngôn ngữ
Ka đai
Dân số
1.400 người.
Cư trú
Cư trú tại Sơn La và Lào Cai
Đặc điểm kinh tế
Dân tộc La Ha sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy theo lối du canh. Việc hái lượm rất quan trọng, thường xuyên hơn so với săn bắn và đánh cá. Ngày nay nhiều bản đã làm ruộng, biết đắp bờ chống xói mòn nương; có nơi đã biết dùng phân bón. Chăn nuôi có lợn, gà, nay có thêm trâu, bò dùng để cày kéo.

Dân tộc Pu Péo

Dân tộc Pu Péo
Tên gọi khác
Ka Beo, Pen ti lô lô
Nhóm ngôn ngữ
Ka đai
Dân số
400 người.
Cư trú
Sống tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang.
Đặc điểm kinh tế
Người Pu Péo chủ yếu sống bằng nghề làm nương và ruộng bậc thang, trồng ngô, lúa, mạch ba góc, đậu... Trong sản xuất, đồng bào dùng công cụ cày, bừa; dùng trâu, bò làm sức kéo. Lương thực chính trong bữa ăn thường ngày là bột ngô đồ chín.

Dân tộc Chăm

Dân tộc Chăm
Nhóm Nam đảo
Tên gọi khác
Chàm, Chiêm thành, Hroi
Nhóm ngôn ngữ
Malayô - Pôlinêxia.
Dân số
99.000 người.
Cư trú
Sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số nơi khác như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm; tây nam Bình Thuận và tây bắc Phú Yên có người Chăm thuộc nhóm Hroi.

Dân tộc Chu Ru

Dân tộc Chu Ru
Tên dân tộc:
Chu Ru (Cho Ru, Ru).
Dân số:
Trên 10.000 người.
Địa bàn cư trú:
Phần lớn ở Đơn Dương (Lâm Đồng), số ít ở Bình Thuận.
Phong tục tập quán:
Thờ cúng tổ tiên và chỉ cúng ngoài nghĩa địa. Thờ nhiều thần liên quan đến các nghi lễ nông nghiệp. Sống định canh định cư. Một gia đình gồm 3-4 thế hệ. Hôn nhân một vợ, một chồng, con gái chủ động cưới, người chồng ở rể.

Dân tộc Ê Đê

Dân tộc Ê Đê
Tên gọi khác
Rađê, Đê, Kpa, A Dham, Krung, Ktul, Dlie Ruê, Blô, Epan, Mdhur, Bích
Nhóm ngôn ngữ
Malayô - Pôlinêxia
Dân số
195.000 người.
Cư trú
Sống tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên.
Đặc điểm kinh tế
Người Êđê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bích làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt, đồng bào còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt.

Dân tộc Gia Rai

Dân tộc Gia Rai
Tên gọi khác
Giơ-rai, Chơ rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor
Nhóm ngôn ngữ
Malayô - Pôlinêxia
Dân số
240.000 người.
Cư trú
Cư trú tập trung ở tỉnh Gia Lai, một bộ phận ở tỉnh Kon Tum và phía Bắc tỉnh Đắc Lắc.
Đặc điểm kinh tế
Người Gia Rai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy, lúa tẻ là cây lương thực chính.

Dân tộc Ra Glai

Dân tộc Ra Glai
Tên gọi khác
Ra Glây, Hai, Noana, La Vang.
Nhóm ngôn ngữ
Malayô - Pôlinêxia
Dân số
70.000 người.
Cư trú
Sống chủ yếu ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận .
Đặc điểm kinh tếTrước đây đồng bào sống du canh bằng nương rẫy. Trên rẫy thường trồng lúa ngô... Hiện nay đồng bào làm cả ruộng nước. Săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công (chủ yếu là nghề rèn và đan lát) giữ vai trò quan trọng trong mỗi gia đình.


Dân tộc Hoa

Dân tộc Hoa
Nhóm Hán
Tên gọi khác
Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Hạ, Xạ Phang..
Nhóm ngôn ngữ
Hoa
Dân số
900.000 người.
Cư trú
Sinh sống ở nhiều nơi từ Bắc đến Nam, ở cả nông thôn và thành thị
Đặc điểm kinh tế
Người Hoa làm nhiều nghề nghiệp khác nhau: nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nhân, viên chức, giáo viên, buôn bán, làm muối, đánh cá, v.v... Nông dân Hoa có truyền thống trồng lúa lâu đời, có kinh nghiệm sản xuất, tạo ra được những nông cụ tốt: cày, bừa dùng đôi trâu kéo, hái gặt lúa, cuốc, thuổng... Nhiều nghề gia truyền của người Hoa đã nổi tiếng từ lâu.

Dân tộc Ngái

Dân tộc Ngái
Tên gọi khác
Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đàn, Lê. Tên tự gọi chung là Sán Ngái ( người miền núi )
Nhóm ngôn ngữ
Hoa
Dân số
1.154 người.
Cư trú
Cư trú ở Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, thành phố Hồ Chí Minh
Đặc điểm kinh tế
Người Ngái sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng trồng lúa. Ơở vùng hải đảo, ven biển thì đánh cá là chính. Đồng bào có truyền thống đào kênh, mương, đắp đập, tạo hồ nước, đắp đê biển, có những nghề thủ công như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói...

Dân tộc Sán Dìu

Dân tộc Sán Dìu
Tên gọi khác
Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc
Nhóm ngôn ngữ
Hoa
Dân số
95.000 người.
Cư trú
Sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang

Dân tộc Cống

Dân tộc Cống

Nhóm Tạng
Tên gọi khác
Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng
Nhóm ngôn ngữ
Tạng - Miến
Dân số
1.300 người.
Cư trú
Huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu. Hiện nay, phần lớn người Cống cư trú ven sông Đà.

Dân tộc Hà - Nhì

Dân tộc Hà - Nhì
Tên gọi khác
U Ní, Xá U Ní
Nhóm ngôn ngữ
Tạng - Miến
Dân số
12.500 người.
Cư trú
Cư trú ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai
Đặc điểm kinh tế
Nguồn gốc chính của đồng bào là trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Hà Nhì là một trong những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và đào mương đắp đập lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làm vườn cạnh nhà...

Dân tộc La Hủ

Dân tộc La Hủ
 Tên gọi khác
Xá Lá Vàng, Cò Xung, Khù Sung, Khả Quy
Nhóm ngôn ngữ
Tạng - Miến
Dân số
5.300 người.
Cư trú
Sống ở huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu).
Đặc điểm kinh tế
Trước kia người La Hủ sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy và săn bắn, hái lượm. Công cụ lao động chủ yếu là con dao, chiếc cuốc. Từ vài chục năm nay, người La Hủ đã phát triển cây lúa nước và lúa nương làm nguồn lương thực chính và dùng trâu cày kéo. Đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia, v.v... bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn.